Các yếu tố nguy cơ thường gặp của bệnh tim mạch

Bệnh tim mạch đã và đang là vấn đề sức khỏe được quan tâm hàng đầu trên thế giới với tỉ lệ tử vong và tàn phế đứng hàng đầu.

Theo uớc tính của Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) cho thấy, hàng năm có khoảng 17 triệu người tử vong do bệnh tim mạch. Hầu hết các bệnh lý tim mạch hiện nay là do xơ vữa động mạch, do vậy, yếu tố nguy cơ của các bệnh tim mạch được bàn đến thường liên quan đến quá trình hình thành và phát triển của xơ vữa động mạch. Theo khuyến cáo của WHO, mọi người đều có thể mắc bệnh tim mạch, đặc biệt khi trên 40 tuổi. Do vậy, việc đánh giá nguy cơ  bị bệnh tim mạch như thế nào là rất quan trọng. Bên cạnh đó, mỗi người có thể phòng tránh hiệu quả các bệnh tim mạch nếu hiểu biết và tôn trọng những quy tắc trong cuộc sống để ngăn ngừa các nguy cơ này.

do dien tim 1

Tầm soát các yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch

Yếu tố nguy cơ tim mạch là gì?

Yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch là các yếu tố liên quan với sự gia tăng khả năng bị mắc bệnh tim mạch. Một người mang một, hoặc nhiều yếu tố nguy cơ nào đó. Thường thì các yếu tố nguy cơ hay đi kèm nhau, thúc đẩy nhau phát triển và làm xác suất mắc bệnh tăng theo cấp số nhân. Người ta nhận thấy ngày càng có nhiều các nguy cơ tim mạch xuất hiện. Sau đây là danh sách của các yếu tố nguy cơ chính của bệnh tim mạch, đã được thừa nhận.

Các yếu tố nguy cơ thường gặp của bệnh tim mạch:

Yếu tố nguy cơ không thể thay đổi được

  • Tuổi
  • Giới tính
  • Di truyền
Yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được
  • Tăng huyết áp
  • Rối loạn lipid máu
  • Hút thuốc lá
  • Thừa cân, béo phì
  • Đái tháo đường
  • Lười vận động

Tuổi

Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy, tuổi tác là một trong những yếu tố dự đoán bệnh tật quan trọng nhất. Hơn nửa số người bị đốt quỵ có tuổi cao hơn 65. Tất nhiên là chúng ta không thể giảm bớt tuổi đời của mình được, nhưng việc ăn uống điều độ, sinh hoạt hợp lý có thể giúp làm chậm lại quá trình lão hóa do tuổi tác gây ra.

Giới tính

Nam giới có nguy cơ mắc bệnh mạch vành, đột quỵ và các bệnh tim mạch khác cao hơn so với nữ giới ở tuổi trẻ. Tuy nhiên, nữ giới tuổi cao, sau mạn kinh cũng có nguy cơ bị bệnh tim mạch không khác nhiều so với nam giới. Hiện nay, bệnh tim mạch ở nữ giới đang trở thành vấn đề đáng báo động vì sự chủ quan của chính chúng ta.

Yếu tố di truyền

Những bằng chứng nghiên cứu cho thấy những người có yếu tố di truyền (gia đình có người bị bệnh tim mạch hoặc đột quỵ nam trước 55 tuổi và nữ trước 65) sẽ có nguy cơ bị bệnh tim mạch cao hơn những người khác.

Tăng huyết áp

Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ tim mạch thường gặp nhất và cũng là yếu tố nguy cơ được nghiên cứu đầy đủ nhất. Tăng huyết áp được coi là kẻ giết người thầm lặng và là nguy cơ mạnh nhất gây các biến cố tim mạch.

kham suc khoe dinh ky 1Thường xuyên theo dõi huyết áp

Tăng huyết áp lại thường kết hợp với các yếu tố nguy cơ khác, đặc biệt là béo phì, tăng cholesterol, triglycerid trong máu và đái tháo đường. Trong các rối loạn đó, một rối loạn này có thể là nguy cơ của rối loạn khác và ngược lại.

Việc điều trị tốt tăng huyết áp giúp làm giảm đáng kể các nguy cơ của nó. Vấn đề đặt ra là kết quả điều trị tăng huyết áp không chỉ phụ thuộc vào việc dùng thuốc mà việc điều chỉnh lối sống như giảm cân nặng, hạn chế muối, tập luyện đều… hết sức quan trọng.

Tăng cholesterol trong máu và các rối loạn lipid liên quan

Tăng hàm lượng các chất lipid trong máu (cholesterol và triglycerid) rất thường gặp,  và là một trong những yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được quan trọng bậc nhất của bệnh tim mạch. Cholesterol toàn phần bao gồm nhiều dạng cholesterol, trong đó, hai thành phần quan trọng nhất là cholesterol trọng lượng phân tử cao (HDL-C) và cholesterol trọng lượng phân tử thấp (LDL-C). Khi nồng độ LDL-C tăng là yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch. Ngược lại, HDL-C được xem là có vai trò bảo vệ bạn, khi hàm lượng HDL-C trong máu càng thấp thì nguy cơ bị bệnh tim mạch càng cao. Tăng triglycerid, một thành phần mỡ máu khác, cũng có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch.

Các rối loạn lipid máu lại thường đi kèm các nguy cơ tim mạch khác như đái tháo đường, tăng huyết áp…

xet nghiem mau cholesterol 1

Xét nghiệm cholesterol máu

Việc đánh giá (xét nghiệm) nồng độ các thành phần lipid máu là rất quan trọng, nên làm ở tuổi sau 40. Chế độ ăn uống hợp lý, tập thể dục đều, nếu cần phải dùng các thuốc điều trị rối loạn lipid máu và điều chỉnh các nguy cơ khác (nếu có) đi kèm,  là biện pháp hiệu quả ngăn ngừa các biến cố tim mạch.

Hút thuốc lá

Hút thuốc lá (kể cả thuốc lào) là một yếu tố nguy cơ thực sự làm tăng nguy cơ mắc bệnh  mạch vành, đột quỵ, bệnh mạch máu ngoại vi, cho dù những người hút thuốc thường gầy và có huyết áp thấp hơn những người không hút thuốc. Bên cạnh đó, hút thuốc lá còn gây ung thư phổi và các bệnh lý khác.

Hãy nói không với thuốc lá, nếu bạn chưa hút. Nếu đã hút thuốc thì hãy bỏ ngay, vì việc bỏ thuốc lá là một biện pháp được chứng minh rất hiệu quả trong việc giảm nguy cơ bị bệnh tim mạch. Chúng ta cũng cần chú ý là  hút thuốc thụ động ( hít khói thuốc lá do người khác hút) cũng có nguy cơ không kém.

Thừa cân/béo phì

Thừa cân/béo phì ở các mức độ khác nhau đều làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Béo phì có thể tác động tới sự  hình thành các yếu tố nguy cơ khác. Béo phì càng nhiều thì khả năng xuất hiện các yếu tố tiền đề cho xơ vữa động mạch như tăng huyết áp, đái tháo đường cũng như nguy cơ mắc bệnh tim mạch càng cao.

kiem soat can nang 1

Kiểm soát cân nặng

Đái tháo đường và kháng insulin

Những người mắc bệnh đái tháo đường, đặc biệt là đái tháo đường type II, có tỉ lệ mới mắc bệnh mạch vành và đột quỵ cao hơn người bình thường. Bản thân người bệnh đái tháo đường cũng thường chết vì nguyên nhân tim mạch. Ngay cả khi lượng đường trong máu chỉ mới tăng nhẹ thì nguy cơ mắc bệnh tim mạch cũng cao hơn. Những người đái tháo đường type II thường có nồng độ insulin trong máu cao, và kèm theo tình trạng kháng Insulin.

Đái tháo đường và đề kháng Insulin làm tăng nguy cơ tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, tăng lắng đọng cholesterol vào mảng vữa xơ động mạch, thúc đẩy quá trình xơ vữa và các biến chứng của nó.

Trong thực tế, giảm cân nặng và tập luyện có khả ngăn ngừa hoặc làm chậm lại sự xuất hiện của bệnh đái tháo đường. Việc điều trị kiểm soát tốt đường huyết (nếu bạn bị) sẽ làm giảm đáng kể nguy cơ bệnh tim mạch.

Lười vận động (lối sống tĩnh tại)

Lối sống tĩnh tại được coi là một nguy cơ của các nguy cơ tim mạch. Việc vận động hàng ngày đều đặn ít nhất 30 phút mang lại lợi ích rõ rệt trong giảm nguy cơ bệnh tim mạch. Người ta đã chứng minh việc tập luyện thể lực thường xuyên làm giảm nguy cơ xuất hiện nhồi máu cơ tim đồng thời nâng cao khả năng sống sót khi xảy ra nhồi máu cơ tim. Người ta cho rằng lợi ích của tập luyện là ở việc giảm cân, tăng khả năng dung nạp đường, tăng sức mạnh cơ tim, tăng nồng độ HDL-C, giảm căng thẳng, hạ huyết áp…

Các hình thức luyện tập được khuyến cáo là tập đều đặn, mỗi ngày ít nhất 30 phút, tập đủ mạnh (ấm người, thở hơi nhanh, ra mồ hôi vừa)

Vấn đề uống rượu

Hiện nay, các khuyến cáo cho rằng, nếu sử dụng điều độ, tức không quá một đơn vị uống mỗi ngày, uống rượu không gây nguy cơ tim mạch và trong chừng mực nào đó có thể giúp ngăn ngừa xơ vữa động mạch và bệnh mạch vành. Tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa có đầy đủ bằng chứng và sự thống nhất khuyến cáo mọi người uống rượu một cách hệ thống. Uống quá nhiều rượu (nhiều hơn một đơn vị uống: tương đương 60 ml rượu vang, 300 ml bia, hoặc 30 ml rượu nặng) mỗi ngày  có thể hại cho sức khỏe. Lúc đó rượu có thể làm tăng huyết áp, tăng nguy cơ tổn thương gan và biến chứng thần kinh trung ương cũng như rất nhiều rối loạn khác, một vài trong số đó lại là các rối loạn về tim mạch.

►ĐIỀU CHỈNH CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ TIM MẠCH (theo dõi số tiếp theo)

Nguồn tin: Minh Anh