Điều trị tụ máu dưới màng cứng

Bệnh nhân ST (nữ, 55 tuổi) nhập viện Bệnh viện quốc tế Minh Anh với chấn thương vùng đầu do tai nạn, bán cầu (T) tụ máu cấp tính dưới màng cứng, tổn thương chèn ép não thất và xuất huyết lều tiển não (T). Bệnh nhân được chỉ định phẫu thuật điều trị ngày 23/11 và hiện đang trong quá trình theo dõi hậu phẫu, sức khỏe bệnh nhân tiến triển tốt.

Máu tụ dưới màng cứng là khối máu đông hình thành trong khoang dưới màng cứng, khoang giữa màng cứng và màng nhện. Máu tụ dưới màng cứng thường do chấn thương đầu gây tổn thương các tĩnh mạch vỏ não.

Màng não và khoang dưới màng cứng là gì?

Màng não là các lớp lót bảo vệ não, bao bọc xung quanh não trong hộp sọ và quanh tủy sống trong ống sống.

Màng não có 3 lớp

- Màng cứng: lớp ngoài cùng nằm sát xương sọ hoặc xương sống.

- Màng nhện: lớp giữa.

- Màng mềm: nằm trong cùng, là màng sát não bộ và tủy sống.

Màng não có ba khoang giữa các lớp

- Khoang ngoài màng cứng: là khoang giữa hộp sọ và màng cứng. Đây là khoang ảo, dính sát xương, chỉ bị tách ra khi có bệnh lý.

- Khoang dưới màng cứng: là khoang giữa màng cứng và màng nhện.

- Khoang dưới nhện: là khoang giữa màng nhện và màng mềm.

Nguyên nhân hình thành khối máu đông

Máu tụ dưới màng cứng thường do các nguyên nhân sau

Chấn thương ở đầu như bị ngã và đập đầu, hoặc bị chấn thương đầu do tai nạn. Chấn thương này có thể làm tổn thương và gây ra chảy máu từ các mạch máu tụ lại trong khoang dưới màng cứng, hoặc có thể gây tổn thương nhu mô não cùng một lúc.

Do chảy máu tự phát và không phải do chấn thương như rối loạn đông máu, do dùng thuốc (thuốc chống đông máu như Warfarin), bệnh máu khó đông (haemophilia) hoặc do giảm tiểu cầu.

Một nguyên nhân hiếm gặp của máu tụ dưới màng cứng là chảy máu từ chỗ phồng lên của mạch máu, gọi là túi phình mạch não (aneurysm). Các thành của túi phình mạch não yếu, có thể vỡ và gây chảy máu.

Dấu hiệu của máu tụ dưới màng cứng

Não và màng não được bao phủ trong hộp sọ. Khi tụ máu dưới màng cứng, cục máu đông lớn dần, chiếm diện tích trong hộp sọ và chèn ép nhu mô não, vì vậy, làm tăng áp lực bên trong hộp sọ (gọi là tăng áp lực nội sọ). Các triệu chứng có thể bắt đầu phát triển sau đó, tuy nhiên, máu tụ dưới màng cứng nhỏ lại không có bất kỳ triệu chứng nào.

Máu tụ dưới màng cứng được chia làm các dạng sau

Tụ máu dưới màng cứng cấp tính

Các triệu chứng có thể xuất hiện ngay sau khi chấn thương đầu như bệnh nhận có thể bị bất tỉnh ngay tại thời điểm chấn thương hoặc có thể tỉnh táo sau chấn thương một vài giờ đầu, rồi sau đó hôn mê trở lại khi khối máu tụ hình thành.

Nếu bệnh nhân không ngất, có thể thấy đau đầu tăng dần, kèm theo buồn nôn hoặc nôn, lú lẫn, yếu chân tay một bên và nói khó khăn, đôi khi có thể co giật.

Máu tụ dưới màng cứng bán cấp

Các dấu hiệu tương tự như hình thức cấp tính mô tả trên (mất ý thức, nhức đầu, nôn và buồn nôn) nhưng xuất hiện sau khoảng 1 đến 3 tuần.

Máu tụ dưới màng cứng mạn tính

Các triệu chứng thường không xuất hiện cho đến khoảng sau 3 đến 4 tuần sau khi bị chấn thương đầu. Đây thường là chấn thương nhỏ hoặc bệnh nhân không nhớ bị chấn thương đầu như do dùng thuốc chống đông hay nghiện rượu.

Các triệu chứng có thể tăng dần với các biểu hiện như chán ăn, nôn và/hoặc buồn nôn, nhức đầu, nói khó khăn, rối loạn thị giác,…

Điều trị tụ máu dưới màng cứng

Điều trị máu tụ phụ thuộc vào máu tụ là cấp tính hay mạn tính, kích thước của khối máu tụ và các triệu chứng, cụ thể như:

Nếu máu tụ nhỏ, máu tụ dưới màng cứng cấp tính không triệu chứng hoặc triệu chứng không quan trọng thì người bệnh chỉ cần theo dõi.

Trường hợp có khối máu tụ, bác sĩ thường khám nhiều lần để đánh giá mức độ tỉnh táo và để tìm triệu chứng có thể xuất hiện như đau đầu, yếu chân tay,… Hoặc có thể chụp cắt lớp vi tính sọ não lần đầu để đảm bảo rằng khối máu tụ không tăng kích thước. Khi bệnh nhân bắt đầu xuất hiện triệu chứng mới và tình trạng ngày càng xấu thì cần phẫu thuật.

Phẫu thuật có thể được thực hiện ngay từ đầu nếu có máu tụ dưới màng cứng lớn, có dấu hiệu tăng áp lực nội sọ, yếu chân tay, rối loạn ngôn ngữ.

Hoàng Thao tổng hợp